Thôn Thái Bình - xã Mai Lâm - huyện Đông Anh - Hà Nội

 

Đình làng Thái Bình

         Nằm ở phía Bắc sông Đuống, xã Hoa Lâm ( sau đổi là Danh Lâm) thuộc tổng Hội Phụ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh xã Danh Lâm gồm 3 thôn: Lệ Xá, Phú Thọ, Thái Bình. Sau năm 1945, ba thôn của xã Danh Lâm, ba thôn của xã Du Lâm, cùng Mai Hiên, Lộc Hà hợp nhất thành xã Mai Lâm, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1961 nhập vào huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

         Trước đây, xã Hoa Lâm gồm 3 thôn trong đó có thôn Thái Đường. Thôn nằm ngay bên sông, tấp nập cảnh trên bến dưới thuyền. Chính ở vị trí giao thương thuận lợi ấy mà triều Lý đã lập vườn hoa lớn tại đây. Sau khi nhà Trần kế ngôi nhà Lý, năm 1232, nhân các tông thất của nhà Lý tập hợp ở Thái Đường (có nghĩa là ngôi nhà lớn) làm lễ thờ cúng tổ tiên đã bị đánh sập chết toàn bộ, cả Thái Đường là nấm mồ chung của họ. Sau cây cối mọc um tùm trên mộ cũ, rộng đến 10 mẫu. Cách đây 50 năm, người dân còn thấy bệ thờ lộ thiên, phía trên có đặt bát hương thờ  Lý Chiêu Hoàng. Đằng sau bệ thờ là những cây súng, cây gáo, cây đề cổ thụ.

         Giải thích duyên do các vị thần ở thôn Thái Đường, ông chánh hội Trịnh Xuân Luận cho biết thôn Thái Đường trong báo cáo gửi lên quan tứ phủ Từ Sơn năm 1938, đến đời Thành Thái (1889-1907) vì kiêng cữ “Đường” là quốc húy mới đổi là Thái Bình.

         “Còn như tên Nôm thì cả Tổng Hội Phụ đều gọi là tổng Cói. Từ thời Lý -Trần thì tên tổng tôi vốn gọi là Cối Phụ tổng, sau nhân ông Trịnh Cối lên ngôi chúa, vì kiêng tên húy tên ông nên bỏ chữ mộc bên phải chữ cối, chỉ còn là chữ hội. Vậy nay thành tên là tổng Hội Phụ thuộc huyện Đông ngàn, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh”

         Cũng theo tài liệu này, thôn Thái Bình thờ một vị thần và một vị Thái hoàng: vị Đào tướng quân, bà Lý Chiêu Hoàng, hai ông quan triều Lý.

         “Còn như làng tôi thờ cả bà Lý Chiêu Hoàng và hai vị quan triều Lý và cả tổng Cối Giang nguyên về đời nhà Lý gọi là tám xã Hoa Lâm (Hoa Lâm bát xã) tại nhà tôi có cái vườn hoa ở tổng tôi, cho nên cả 8 xã đều là viên dinh vườn hoa ấy cả. Vườn hoa ấy bây giờ đã thành rừng ở địa phận xã Du Lâm rộng hơn 10 mẫu, có nhiều cây cổ thụ.

         Khi bà Lý Chiêu Hoàng lấy ông Trần Cảnh (Trần Thái Tông) truyền ngôi cho chồng rồi thì ông Trần Thủ Độ làm một cái bẫy cạm rất to ở khắp cả vườn hoa ấy, rồi bày tiệc lên trên bẫy, mời tôn thất nhà Lý ăn yến, rồi sập bẫy xuống, thế là cả họ nhà Lý bị ông Trần Thủ Độ giết chết ở vườn hoa ấy.

         Rừng Du Lâm bây giờ tuyên truyền rằng là một cái mả chôn tất cả nhà họ Lý. Còn hai vị quan triều Lý không biết sự tích, húy hiệu là gì chỉ có những chữ “ Duệ hiệu ở sắc phong để tế ngài mà thôi”.

         Vì sao có tên gọi là Thái Đường?

         Thôn Thái Bình thờ bà Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của Triều Lý, nhưng như ở trên đã trình bày, Thái Đường nằm trong đất Rừng Hoa của nhà Lý. Hàng năm, các tống thất nhà Lý thường về đây cúng làm lễ cúng tổ tiên. Vậy Thái Đường (nơi đặt ngôi nhà thờ lớn của triều Lý) có liên hệ mật thiết gì với triều đại kéo dài hơn hai thế kỷ này? Qua các nghiên cứu gần đây, có thể nói Thái Đường là quê mẹ của Lý Công Uẩn.

         Về mâu thuẫn của Lý Công Uẩn, chính sử chép rằng: Bà người họ Phạm, đi chơi chùa Tiêu Sơn gặp thần rồi có mang. Bà sinh con ngày 2 tháng hai năm Giáp Tuất (974). Vậy quê bà Phạm Thị ở đâu? Gần đây các cụ ở Đình Bảng, quê hương của Lý Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn có tìm về Hoa Lâm và nhận rằng đây chính là tổ ngoại của nhà Lý, vì trong lần sưu tầm tư liệu về 8 vị vua Lý, các cụ có tìm được tấm bia nói về sự tích Thánh mẫu ở chùa Tiêu Sơn (xã Hương Giang, huyện Tiêu Sơn, Bắc Ninh).

         Ngay Sau ngày Thánh Mẫu có thai, vì lễ giáo thời đó, từ chùa Tiêu, bà không thể về quê mẹ ở Hoa Lâm. Bà được Lý Khánh Văn (em trai sư Lý Vạn Hạnh) đưa về đầm Sấu chăm sóc. Ít lâu sau, bà sinh Lý Công Uẩn tại cái am nhỏ ở chùa. Từ đấy dân quanh vùng gọi chùa ấy là chùa Dặn.

         Từ chùa Tiêu, theo điều ghi trong bia, các cụ ở Đình Bảng có tìm về Hoa Lâm vui mừng được biết từ triều Lý nơi đây đã có Thái Đường. Nếu Thái Miếu ở Đình Bảng thờ tổ nội thì Hoa Lâm có Thái Đường thờ tổ ngoại nhà Lý.

         Khi triều Lý không còn, Thái Đường được tu sửa thành đền và nay là đình Thái Bình.

         Đình Thái Bình dựng ngoài bãi sông Đuống, có 5 gian 2 dĩ. Trước đình có tòa tiền tế và hai dẫy tả mạc.

         Theo những chữ Hán ghi ở câu đầu thì kiến trúc đình Thái Bình còn lại đến ngày nay được dựng vào năm Ất Tỵ (1905) năm thứ 17 đời Vua Thành Thái nhà Nguyễn.

         Đình Thái Bình quy mô khá lớn. Các cột cái, cột quân bằng gỗ lim, một vòng tay ôm không hết. Ở các đầu dư chạm rồng ổ, rồng chầu. Nét chạm mềm mại, uyển chuyển. Ở gian giữa, trước hậu cung đình có bộ “Văn thượng”  dân gian quen gọi là “màn giếng” trang trí rất cầu kỳ. Ở hàng trăm các ngôi đình phía Bắc, hiện chỉ còn một hai nơi có bộ “Ván thượng” này.

         Trước đây đình Thái Bình có thần tích, sắc phong thần nhưng do lũ lụt. Các tài liệu quý hiếm đều bị hỏng nát năm 1955 – 1956 do nhận thức không đúng về giá trị ngôi đình làng, kiệu bát cổng, ngựa hồng, ngựa bạch cũng bị đem chẻ làm củi đun. Những đôi câu đối, những bức hoành phi, ở mỗi chữ được tiền nhân gửi gắm bao ước nguyện, một thời cũng bị người ta cắt ra đóng hòm, đóng nhà kho…

         Mùa lũ năm 1990, đất bãi sông bị lở, từ ngày 05/8/1990 đến 20/10/1990, người dân trong làng đã di chuyển hết 36 triệu đồng do dân đóng góp.

         Đình Thái bình có tam môn bề thế. Năm 2000, ở bên phải có dựng một nhà bia. Nhà bia hai tầng tám mái. Giữa nhà bia có đặt tầm bia “Lý gia linh thạch” được chế tác theo nguyên mẫu tấm bia ở chua Tiêu Sơn.

         Ở các cột được đắp nổi bằng nề vôi hai đôi câu đối. Nội dung nói về bà Phạm Thị, thân mẫu của Lý Công Uẩn.

         Cùng các bia đá “Hoa Lâm Đông thôn hậu bi ký” tạo năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762), đình vẫn còn giữ được một số hoành phi tạo vào thời Thành Thái.   

         Vẫn theo báo cáo của ông Trịnh Xuân Luận thì “ Nguyên trước làng tôi  thờ vị Đào tướng công, sau vì có vườn hoa của Vua nhà Lý ở tổng tôi, cả tổng tôi là viên đình vườn ấy nên mới thờ thêm bà Lý Chiêu Hoàng và hai vị quan triều Lý (…) thờ ngài thì thờ bằng bài vị và có cả hia đai mũ mão nữa”.

         Hiện nay ở hậu cung đình Thái Bình trên ban thờ đặt ba pho tượng: Tượng bà Lý Chiêu Hoàng ở chính giữa, hai bên là tượng Trần Thủ Độ và Trần Cảnh. Ba pho tượng này của ông Bảy  (phố hàng Chiếu) công đức năm 1980.

         Ở phần sau của hậu cung, có hai bàn thờ nhỏ. Đó là bàn thờ ông bà Đào Kỳ và Phương Dung. Giải thích vì sao có sự đổi mới trong việc thờ phụng này, cách đây 10 năm, ông Trịnh Xuân Ngột cho biết “Dân ta vốn trọng sự đoàn kết, biết đặt quyền lợi tối cao của dân tộc lên trên hết, thờ như vậy sẽ xóa đi thù hận của hai triều Lý – Trần”.   

Trần Văn Mỹ - Báo Người Hà Nội số 47     

Bài viết liên quan