TÌM HIỂU ĐỊA DANH LONG VỸ TRÊN ĐẤT CỔ PHÁP BẮC NINH

TÌM HIỂU ĐỊA DANH LONG VỸ TRÊN ĐẤT CỔ PHÁP BẮC NINH

          Long Vỹ và Cổ Pháp là những địa danh hay được nói đến trong các tài liệu cổ sử của Họ Lý và Họ Dương Việt Nam. Châu Cổ Pháp, như đã biết là tên gọi cho vùng Bắc phần của tỉnh Bắc Ninh có từ thời Lê Đại Hành (989 – 1005), đến thời Lý đổi thành phủ Thiên Đức, thời Trần (1225 – 1400) là huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, bao gồm 13 tổng: Hà Lỗ, Yên Thường, Dục Tú, Mẫn Xá, Phù Lưu, Phù Chẩn, Nghĩa Lập, Cổ Loa, Tam Sơn… Đáng chú ý, các xã (theo cách gọi xưa) thường có liên quan trong quá trình nghiên cứu lịch sử Họ Dương vùng Cổ Pháp, là: Hà Lỗ, Trịnh Xá thôn Nguyễn Xá, Mẫn Xá, Phù Lưu (Chợ Giàu), Đình Bảng (làng Báng), Trang Liệt (Sặt Đồng), Dương Lôi (Đình Sấm) – Trung Hòa; Phù Chẩn, Phù Cảo, Phù Luân đều có tên Nôm là làng Cháy; Nghĩa Lập (làng Sộp), Phù Khê (làng Giầm), Đồng Kỵ (làng Cời) thuộc tổng Nghĩa Lập …

          Qua đó cho thấy: Châu Cổ Pháp xưa, ngày nay chủ yếu bao gồm các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong của Bắc Ninh và một phần của huyện Đông Anh, Gia Lâm của Hà Nội.

          Cũng cần chú ý tên gọi của tỉnh Bắc Ninh qua các thời kỳ: Thời Hùng Vương Bắc Ninh thuộc bộ Vũ Ninh, thời Bắc thuộc, dưới triều Hán (110T – 210T) thuộc quận Giao Chỉ với hai huyện Luy Lâu và Long Biên, dưới triều Ngô thuộc Giao Châu, dưới triều Tấn (284 – 420) lại thuộc Giao Chỉ với các huyện Long Biên, Luy Lâu, Vũ Ninh và Khúc Dương, thời Đinh, Tiền Lê vẫn thuộc quận Giao Châu, thời Trần là Kinh Bắc và thời Nguyễn gọi là Bắc Ninh (1831) (1).

Địa danh Long Vỹ nhắc đến trong cổ phả Họ Dương, Họ Lý (2) luôn gắn liền với châu Cổ Pháp. Dưới đây là một vài ví dụ:

1 – “ Đời Hùng Vương thứ VI, Tổ Dương Minh Thắng về định cư tại bộ Vũ Ninh, ở đất Long Vỹ, nay là xã Đình Bảng, Bắc Ninh ”.

2 – “Tổ Dương Minh Thắng qua đời, mộ táng tại trung tâm đất Long Vỹ, hướng Nhâm Bính ”.

3 – “Tổ Dương Đình Thiện sinh quán tại Long Vỹ, châu Cổ Pháp, tỉnh Bắc Ninh, qua đời mộ táng tại Long Vỹ, Châu Cổ Pháp, giữa một gò đất cao”

Mộ Tổ Dương Đình Thiện ở xứ đồng Cánh Nhạn – Đồng Kỵ (Trang Long Vỹ - Cổ Pháp)

4 – “Tổ Dương Đình Nghệ sinh quán tại Long Vỹ, châu Cổ Pháp, tỉnh Bắc Ninh”.

5 – “Tổ Dương Đình Tín, con trưởng Tổ Dương Đình Thiện, sinh quán tại Long Vỹ, châu Cổ Pháp, tỉnh Bắc Ninh”

 6 – “Tổ Dương Đình Tiến, sinh quán tại Cổ Pháp, Kinh Bắc, Đông Ngàn. Mất năm Bính Dần (1086), mộ táng tại trung tâm Kim Long ở Long Vỹ hướng Quý Đinh”

7  – “Tổ Phạm Như Hoa (bà Dương Đình Tiến) mất năm Nhâm Ngọ (1102), mộ táng tại Long Vỹ - Kim Long cùng huyệt cụ Ông”

8 – “Tổ Lý Long Sưởng, con trai cả Lý Thiên Tộ, sinh tại Kinh Bắc, huyện Đông Ngàn; mất năm Kỷ Mão (1219), mộ táng tại Kinh Bắc, huyện Đông Ngàn, đất Long Vỹ”

9 – Xem “ gia phả Họ Lý Họ Dương” cho biết: Mộ các Vua triều Lý đều táng tại Núi rừng Cổ Pháp, Kinh Bắc, Lăng Cấm Địa. Lăng mộ các Vua Lý nay còn di tích tại xã Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh.

10 – Tại khu Di Tích Nhà Lý tại Đình Bảng (Bắc Ninh):

Tám ông Vua Lý được thờ tại Đền Đô (hay là đền Lý Bát Đế). Riêng Lý Chiêu Hoàng vị vua thứ 9 nhà Lý, khi mất được mai táng và lập Đền thờ ở Long Vỹ quê Bà. Hiện nay Đền thờ Lý Chiêu Hoàng được gọi là Đền Rồng hay Đền Long Vỹ.

 Đền Rồng nơi thờ Lý Chiêu Hoàng ở Từ Sơn, Bắc Ninh (Đền Long Vỹ - Đình Bảng)

Qua các thí dụ nêu trên cho thấy: Địa danh Long Vỹ được nhắc đến trong hai cách mô tả: Long Vỹ - Cổ Pháp - Đình Bảng và Long Vỹ - Cổ Pháp - Kinh Bắc, hay Bắc Ninh, không nói đến xã, thôn nào.

Nghiên cứu “ gia phả Họ Lý Họ Dương ” chúng tôi thấy: Mộ Vua quan Nhà Lý đều táng trên đất Long Vỹ - Đình Bảng, nay là khu “ Thọ Lăng Thiên Đức” còn hiện hữu ở Đình Bảng. Còn quê và mộ các cụ Họ Dương: Dương Đình Thiện, Dương Đình Tín, Dương Đình Nghệ, Lý Long Sưởng… thì chỉ ghi chung là Long Vỹ - Cổ Pháp - Kinh Bắc, như đã nêu trong thí dụ ở trên. Thực tế mộ các cụ hiện ở khu nghĩa địa Cánh Nhạn làng Đồng Kỵ - Đồng Quang - Từ Sơn - Bắc Ninh.

Như thế, địa danh Long Vỹ có cả ở Đình Bảng và Đồng Kỵ.

Vậy Long Vỹ Đình Bảng và Long Vỹ Đồng Kỵ là thế nào?  

       Qua tìm hiểu thực tế ở Đồng Kỵ những năm (2014-2017) chúng tôi thấy: Tên Long Vỹ không có ghi trên bia hay tài liệu lịch sử nào, mà chỉ qua truyền miệng rằng:

Đất Trang Cời (tên làng Đồng Kỵ thời xưa) nằm bên cạnh cuối con sông Ngũ Huyện Khê uốn lượn như Rồng, chảy từ Đông Anh sang, nên người ta đặt thêm tên Long Vỹ cho làng. Việc tìm thấy mộ Thủy Tổ Dương Đình Thiện ở Đồng Kỵ gần đây, đối chiếu với “ gia phả Họ Lý Họ Dương ” biết cụ sinh ra ở Long Vỹ, mộ cũng táng ở Long Vỹ, thì khẳng định được thời xa xưa Đồng Kỵ thuộc đất Long Vỹ thực sự.

Nhưng nếu chỉ căn cứ vào thế tiểu phong thủy sông Ngũ Huyện Khê để gọi Đồng Kỵ là Long Vỹ là không thuyết phục. Vì thế, cần phải tìm cơ sở vững chắc hơn để lý giải điều này.

          Còn Long Vỹ - Đình Bảng hiện nay chính là vùng đất với làng Long Vỹ có Đền Rồng (Long Từ) thờ Lý Chiêu Hoàng tức công chúa Phật Kim con vua Lý Huệ Tông.

          Theo phân tích các thí dụ ở trên cho thấy: Đất Long Vỹ Đình Bảng có từ rất xa xưa. Thế thì căn cứ vào đâu để người ta gọi đất ấy là Long Vỹ?

          Chúng tôi nghĩ đến thế đất Rồng chầu Lăng Thủy Tổ Kinh Dương được lưu truyền từ ngàn xưa trên đất vùng Dâu – Luy Lâu, nay là huyện Thuận Thành, cách huyện Tiên Du có núi Phật Tích chỉ một dòng sông Đuống. Lưu truyền rằng: Rồng trải mình trên bờ sông Thiên Đức (chỉ sông Dâu ngày xưa lấy nước Hồng Hà chảy về Đình Bảng, qua Phật Tích đổ xuống Luy Lâu ở địa phận xã Đình Tổ, nay còn địa danh xóm Sông, làng Thấp), đầu xuôi hướng Đông Nam chầu sang Lăng Thủy Tổ, mình Rồng uốn lượn lúc ẩn lúc hiện ngược về hướng Tây Bắc suốt đất huyện Tiên Du, tới địa phận Từ Sơn là phần đuôi (Long Vỹ) chìm xuống kéo dài. Đầu Rồng là núi Phật Tích uy nghi chứa đầy huyền thoại linh thiêng. Ai về thăm lăng Thủy Tổ Kinh Dương Vương đều không thể không chiêm ngưỡng và ghi hình lưu niệm thế đất này. Thời xưa chưa có sông Đuống – là sông đào mới hình thành từ triều Vua Tự Đức (1848-1883)(3), thì người ta có thể sải bộ một đoạn đường ngắn từ Lăng Kinh Dương tới núi Phật Tích lên Bàn Cờ Tiên, sang thăm Long Khám (Khám thờ Rồng).

          Đến đây có thể quan sát thực tế để thấy rõ hơn: Đầu Rồng là núi Phật Tích, thân là dãy núi Nguyệt Hằng (núi Chè) trải dài ngang huyện Tiên Du, đuôi Rồng (Long Vỹ) là phần đất hạ thấp dần sang huyện Từ Sơn, kéo từ Đình Bảng sang Trịnh Xá, Đồng Kỵ - Đồng Quang ... Cho nên, Long Vỹ (Đình Bảng) hay Long Vỹ (Đồng Kỵ) chỉ là những phần khác nhau của cùng một thế đất Rồng đại cảnh khởi đầu từ bờ Bắc sông Đuống kéo lên.

          Để quan sát tương đối đầy đủ thế đất đó, ta có thề đi từ Thuận Thành theo đường 38  - Cầu Hồ sang bờ Bắc sông Đuống, ghé mắt nhìn sang bên trái sẽ thấy núi Phật Tích đầu Rồng, tiếp theo là hình Rồng uốn lượn thật là ngoạn mục hướng về vùng Từ Sơn!

          Luy Lâu – miền đất đồng bằng trù phú, lại có thế Phong Thủy Thiên Văn như thế, nên đã được “Vua Thủy Tổ chọn đóng Đô nước Xích Quỷ ”(4)

          “ Chính Kinh Dương Vương khi đi kinh lý nhận ra thế đất quý có Tứ Linh – Long, Ly, Quy, Phượng; có sông núi bao quanh, Rồng chầu Hổ Phục, nên Ngài đã đem  những cư dân Việt cổ quy tụ về, lập nên những xóm làng đầu tiên” (5)

          Ngoài ra, cần lưu ý thêm rằng: Địa danh Long Biên (nghĩa là “sát với Rồng”) tên gọi của các huyện của Bắc Ninh xưa, ở quận Giao Chỉ, Giao Châu, hẳn cũng có liên quan đến thế đất Rồng đại cảnh như đã trình bày ở trên./.

Dương Văn Đảm - Phó CT - HĐHDVN

Chú thích:

  1. Nguyễn Văn Huyên. Địa lý Hành chính Kinh Bắc. Hội KHLSVN, Sở VHTT Bắc giang, 1997.
  2. Hội đồng HDVN. Dương tộc kỷ sử. 2014 và Gia Phả Họ Lý Họ Dương,2015
  3. Trần Đình Luyện. Luy Lâu Lịch sử và văn hóa. Sở VHTT Bắc Ninh,1999
  4. Trần Quốc Thịnh (chủ biên). Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương. NXB Văn hóa Dân tộc. H.2011.
  5. Xuân Cang. Đi tìm mộ tổ Kinh Dương Vương. Báo Lao Động 6.10.2013

 

Bài viết liên quan