Truyền kỳ về Thiền sư Dương Không Lộ

          Sơ lược tiểu sử

          Thiền sư Dương Không Lộ huý Minh Nghiêm, hiệu Không Lộ, biệt hiệu Thông Huyền, quê làng Giao Thuỷ (sau đổi là làng Hộ Xá), phủ Hải Thanh (đời Trần đổi là Thiên Thanh, sau lại đổi là Thiên Trường). Ông sinh ngày 14 tháng 9 năm Bính Thìn niên hiệu Thuận Thiên thứ 7(1016) đời Lý Thái Tổ, tại quê mẹ là làng Hán Lý, phủ Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

          Gia đình Dương Không Lộ sống ở làng Giao Thuỷ, chuyên nghề chài lưới ven sông. Khi lớn lên, ông lấy việc câu cá, quăng chài làm vui và thường du ngoạn nhiều nơi danh lam thắng cảnh, tuỳ hứng ngâm vịnh và sáng tác thơ ca.

          Năm Giáp Thân (1044) triều Lý Thái Tông, ông 29 tuổi, bỏ nghề đánh cá để theo học đạo thiền. Ban đầu ông theo học Noãn cư sĩ làng Bảo Tài (chưa rõ nay ở đâu). Sau ông đắc đạo, trở thành Tổ thứ 10 của thiền phái Vô Ngôn Thông, một thiền phái được thành lập ở nước ta vào đầu thế kỷ thứ IX.

          Năm Đinh Dậu (1057) ông chuyển sang theo học thiền phái Thảo Đường. Thảo Đường thiền sư từng nhận xét về học trò Không Lộ của mình: “Chú này cốt cách phi phàm, sau này tất làm pháp tự.” Quả nhiên về sau, Không Lộ trở thành Tổ đời thứ 3 của thiền phái Thảo Đường.

          Năm Kỷ Hợi (1059), Không Lộ tu tại chùa Hà Trạch, rồi chuyển về tu ở chùa Duyên Phúc (tức chùa làng Hộ Xá) sau đổi là chùa Viên Quang.

          Năm 1060 ông cùng các sư Đạo Hanh, Giác Hải đã sang Tây Trúc để tu luyện về đạo Phật, được Phật Tổ giác ngộ và truyền cho phép lạ.

          Năm 1061 thời vua Lý Thánh Tông, sư về nước, dựng chùa Nghiêm Quang, tiền thân của chùa Thần Quang ngày nay. Từ đó ông đi chu du khắp vùng rộng lớn của châu thổ Bắc Bộ, dựng chùa, truyền bá đạo Phật và được suy tôn là vị tổ thứ 9 của phái thiền Việt Nam.

          Năm Quý Mão (1063) Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang (sau đổi là Thần Quang) tại làng Dũng Nhuệ. Sau do đất lở xuống sông Hồng, chùa được chuyển sang làng Dũng Nghĩa (Vũ Thư, Thái Bình).

          Năm Nhâm Tý (1072), Không Lộ cùng Giác Hải chữa khỏi bệnh sợ tắc kè kêu cho vua Lý Nhân Tông. Ông được phong làm Quốc sư.

          Ngày 3 tháng 6 năm Giáp Tuất (1094), Không Lộ thiền sư viên tịch, thọ 79 tuổi. Ngày 10 tháng 8 năm ất Hợi (1095) Giác Hải thu thập xá lị của Không Lộ, xây tháp để chôn cất, tạc tượng để thờ tại chùa Nghiêm Quang. Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu tu sửa chùa, cắt 3.000 hộ hương khói phụng thờ ông.

Tượng Thiền Sư Không Lộ thờ tại chùa Thần Quang (chùa Nghiêm Quang; chùa Keo)

          Ngàn năm thân xác vẫn còn nguyên

          Sử sách còn ghi lại, ngày 3 tháng 6 năm Hộ Trường Khánh thứ 10 đời Lý Nhân Tông, Thiền sư Không Lộ viên tịch. Theo các sư tăng thời nay, khi ấy môn đồ của Thiền sư đã làm lễ hoả táng, thu xá lợi Phật, xây tháp thờ ở trước chùa Nghiêm Quang là nơi sư trụ trì. Tuy nhiên, cũng có một truyền thuyết dân gian còn được lưu lại nơi chùa Keo (Vũ Thư - Thái Bình) kể rằng trước khi viên tịch, Ngài hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên và khúc gỗ biến thành tượng. Thánh tượng ngày nay còn lưu giữ trong hậu cung quanh năm khóa kín cửa.

          Cứ 12 năm một lần, làng Keo lại cử ra một người hội chủ và bốn viên chấp sự để làm lễ trang hoàng tượng Thánh. Những người này phải ăn chay, mặc quần áo mới, họ rước thánh tượng từ cấm cung ra rồi dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm và tô son lại cho tượng Thánh. Công việc này phải làm theo một nghi thức được quy định rất nghiêm ngặt, những người chấp sự phải tuyệt đối giữ kín những gì đã thấy trong khi trang hoàng tượng Thánh.

          Chùa Keo là một ngôi cổ tự có gần 1.000 năm tuổi. Theo sách Không Lộ thiền sư ký ngữ lục, năm 1061, Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang tại làng Giao Thủy (tên nôm là làng Keo) bên hữu ngạn sông Hồng. Sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời, chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang Tự. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa và đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi cả làng mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo phải bỏ quê cha đất tổ ra đi: Một nửa chuyển về Đông nam hữu ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Hành Thiện (nay thuộc tỉnh Nam Định); một nửa vượt sông đến định cư ở phía Đông bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Thái Bình này.

          Đứng soi mình xuống hồ nước phẳng lặng giữa một không gian thoáng đãng, chùa Keo không chỉ lưu giữ nhiều di vật quý giá mà còn chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với cuộc đời Thiền sư Không Lộ.

          Nơi đây, vẫn còn những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư như một bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà người ta kể lại rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.

          Ngàn năm đã trôi qua, dấu tích của Thiền sư Không Lộ vẫn còn lưu lại tại ngôi chùa khi xưa sư trụ trì. Nhiều vị cao tăng ngày nay khẳng định, Thiền sư đã để lại cho hậu thế một tấm lòng bao dung vị tha, dùng ngôn ngữ của bậc giác ngộ để chuyển hoá tâm thức chúng sinh.

          Ngư dân cao đạo

          Theo truyền thuyết còn lưu lại trong dân gian, con đường tu hành của Thiền sư cũng gian nan lắm. Phong cách sư thoát tục, ăn mặc thế nào xong thôi, không vướng mắc vật chất thường tình. Sư tập trung cho việc thiền định. Trải bao năm tu hành, ăn cây mặc cỏ quên cả thân mình, ông đã đắc đạo. Dân gian thành kính, tôn sùng những vị đại sư thời ấy. Với họ có một pháp thuật huyền bí, hoá giải được mọi tai ương. Sau khi các đại sư này cùng phò giúp Lý Công Uẩn lên ngôi vua với những bài kệ (sấm ký) thì thân thế của thiền sư càng thêm thần kỳ.

          Tương truyền, sau khi đắc đạo, sư có thể bay lên không trung, hoặc đi trên mặt nước giống như Sư tổ Đạt Ma. Thiền sư đi vào rừng sâu, núi cao cọp thấy cũng phải cúi đầu, rồng gặp cũng phải nép phục. Những pháp thuật của Thiền sư không thể đo định được. Chẳng thế mà, như một người nhìn thấy trước tương lai, Thiền sư cùng với các Thiền sư khác đã nhìn nhận về sự ra đời của vương triều nhà Lý, ông cũng là biểu tượng cho sự  giác ngộ.

          Trong một lần gặp Đại đức Thích Thanh Trung ông cất giọng đọc một bài kệ của Thiền sư để khẳng định sự toả sáng giác ngộ (sự chứng ngộ - theo ngôn từ nhà Phật). Bằng giọng sang sảng, Đại đức cất giọng đọc:

          "Trạch đắc long xà địa khả cư

          Dã tình chung nhật lạc vô dư

          Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh

          Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư".

          Sau này nhà văn Ngô Tất Tố đã dịch bài kệ này như sau:

          "Lựa nơi rồng rắn đất ưu người

          Cả buổi tình quê những mảnh vui

          Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm

          Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời".

          Trong truyền thuyết và cổ tích dân gian, hình tượng Dương Không Lộ (1016-1094) thường được hình dung là ông Khổng Lồ đúc chuông, lấy nón làm thuyền, lấy gậy tích trượng làm mái chèo, chở hết cả kho đồng xứ Bắc về nước Nam.

Thần của nghề đúc đồng Việt Nam

          Sử sách ghi lại, một hôm, vua Lý nói với Không Lộ, “Bạch Thiền Sư, ta muốn trang bị phẩm vật cho tất cả các chùa trong nước, nhưng trong nước không có nguyên liệu đồng đen. Ta nghe rằng vua Trung Hoa là Phật Tử nhiệt tâm và thường cúng dường các Sư. Ta muốn thỉnh Sư sang gặp vua Trung Hoa và lạc quyên đồng về”.

          Không Lộ đồng ý lên đường, và rồi sau nhiều ngày đi bộ vượt núi, xuyên rừng, qua sông… Không Lộ tới kinh đô nước Trung Hoa.

          Khi nhà sư khổng lồ xuất hiện ở cung điện, vua Trung Hoa hỏi: “Bạch Hòa Thượng, ngài từ đâu tới? Ta có thể cúng dường gì cho ngài?”.

          Không Lộ trả lời: “Sư muốn có một ít đồng đen đề về đúc làm phẩm vật cho các chùa Việt Nam”.

          Nghĩ rằng nhà sư mang theo nhiều người, vua hỏi: “Bạch Hòa Thượng, quý quốc cần bao nhiêu đồng? Thầy mang theo bao nhiêu người?”.

          Sư Không Lộ nói: “Sư tới đây một mình, và chỉ xin đồng cho đủ túi xách này”.

          Vua nhìn chiếc túi xách nhỏ nói: “Thầy có mang cả trăm túi xách, ta cũng sẵn sàng để Thầy lấy đồng đủ cả trăm túi”.

          Rồi vua ra lệnh một nội thị dẫn Sư tới kho vua với lời hứa rằng Sư Không Lộ có thể lấy bao nhiêu tùy sức mang về. Trên đường vào nhà kho, có một sân rất rộng trên đó có một tượng trâu vàng, lớn như ngôi nhà và sáng chói như mặt trời. Quan giữ kho chỉ vào trâu vàng và nói giỡn với nhà sư:

          “Bạch Thiền Sư, có cần trâu vàng này không?”.

          Không Lộ đáp: “Không, ta chỉ cần một ít đồng đen thôi”.

          Trong khi viên quan kinh ngạc nhìn, Không Lộ đưa tất cả đồng đen trong kho vua rất lớn vào túi xách của Sư, móc vào đầu gậy và bước ra. Quan giữ kho vội vã trình báo lên vua rằng đồng bị lấy cả rồi. Vua Trung Hoa không bao giờ ngờ có chuyện như thế; vua hối tiếc, ra lệnh 500 chiến binh theo để chặn bắt nhà sư lại.

          Sau khi vượt 300 dặm với túi nặng trên vai, Không Lộ nghe tiếng lính kỵ binh Trung Hoa hò hét từ phía sau. Tới một dòng sông lớn, nhà sư nhìn lại, thấy đoàn lính phóng ngựa gần tới giữa đám mây bụi mịt mù.

          Không Lộ bước đi trên mặt sông. Tới giữa sông, nhà sư quay lưng lại, nói với các chiến binh vừa dừng ngựa ở bờ sông: “Ta muốn gửi lời cảm ơn tới vua Trung Hoa và ta hy vọng đã không làm phiền tới quý vị.”

          Trở về kinh đô nhà Lý, Không Lộ kể lại cho nhà vua về chuyến đi. Vua yêu cầu sư lấy đồng để làm bốn bảo khí (tứ đại khí) Phật Giáo có thể trường tồn nhiều ngàn năm.

          Không Lộ mời các thợ đồng giỏi nhất nước tới làm việc, và chia đồng làm bốn phần.

          Trước tiên, Không Lộ xây một cái tháp chín tầng, đặt tên là tháp Bảo Thiên. Ngôi tháp đứng cao vút giữa kinh đô, dân nơi này từ các hướng đều thấy tháp rõ ràng. Kế tiếp, sư đắp một pho tượng Phật cao sáu trượng (khoảng 20 mét), và một chiếc đỉnh lớn với chu vi bằng 10 người ôm.

          Sau khi dùng số đồng còn lại làm chuông, Không Lộ đánh chuông, nghe tiếng ngân đầu tiên vang xa, tới tận Trung Hoa.

          Bị đánh thức bởi tiếng chuông, tượng trâu vàng trước kho vua Trung Hoa bổng đứng chồm dậy và phóng về hướng Nam nhiều ngàn dặm. Thấy chuông mới đúc xong, trâu vàng ngửi ngửi rồi nằm xuống kế bên chuông.

          Không Lộ lo ngại chiến tranh có thể bùng nổ nếu vàng chảy vào Việt Nam. Thiền Sư nói với nhà vua, và được cho phép ném quả chuông khổng lồ để tránh một cuộc chiến có thể xảy ra.

          Một hôm, Không Lộ xách quả chuông lên núi, ném chuông xuống Hồ Tây. Chuông bay cao lên không, và rơi ùm vào hồ. Nghe tiếng chuông bay, trâu vàng phóng theo tiếng chuông và nhảy vào Hồ Tây, từ đó nơi đây còn được gọi là hồ Trâu Vàng.

          Sau khi viên tịch, Thiền Sư Không Lộ được thờ như vị thần bảo hộ cho thợ đúc đồng. Ngài để lại vài bài thơ, trong đó các câu sau thường được nhắc tới:

          “… Ta đôi khi bước lên đỉnh núi cao

          Hét to một tiếng dài, làm cả bầu trời lạnh băng…”.

           Nhà thơ nổi tiếng

          Trong các sách giáo khoa văn, các tổng tập và tuyển tập văn học Việt Nam và một số sách khác xuất bản gần đây cho biết Không Lộ chỉ còn hai bài thơ là “Ngôn hoài ” và “Ngư nhàn ”.

          Khi chọn được đất làm chùa Nghiêm Quang, ông có bài kệ nổi tiếng mà người đời sau gọi là bài“Ngôn hoài” (Nói nỗi cảm hoài):

          Trạch đắc long xà địa khả cư

          Dã tình chung nhật lạc vô dư

          Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh

Trường khiếu nhất thanh hàn thái dư.
(Chọn đất long xà tới nghỉ ngơi

          Lòng quê vui thích thú thảnh thơi

          Núi cao có lúc trèo lên đỉnh

          Thét một tiếng vang lạnh cả trời.)

          Bài thơ thể hiện nỗi vui mừng khi chọn được đất tốt để xây chùa làm nơi trụ trì, bộc lộ tình cảm bất tận của tác giả đối với đồng quê, thiên nhiên, tạo vật, đất nước. Có khi tác giả trèo lên một đỉnh núi, nhìn ngắm thiên nhiên hùng vĩ, với tâm hồn phóng khoáng, cảm khoái và cao hứng thét lên một hơi dài làm lạnh cả bầu trời. Bài thơ cũng thể hiện tinh thần “Vô chấp giới” nhằm đạt tới sự tự do hoàn toàn, giải phóng bản thể mà hoà nhập với vũ trụ theo quan điểm nhà Phật “Vạn vật nhất thể ”. Câu kết của bài thơ, “Trường khiếu nhất thanh hàn thái dư” - Thét một tiếng dài làm lay động cả bầu trời là hình ảnh hào hùng, sảng khoái hiếm thấy trong lịch sử thơ thiền Việt Nam.

          “Ngư nhàn” cũng là một bài thơ đặc sắc của Không Lộ. Bài thơ là một bức tranh phong cảnh sơn thuỷ sinh động và tuyệt đẹp: Dòng sông xanh liền với trời bát ngát, bãi dâu chen mọc, làn khói toả thanh bình trong thôn xóm, bác chài ngủ ngon lành trong thuyền khi tỉnh giấc thấy thuyền đầy hoa tuyết... Bài thơ mang cảm xúc thiền học tinh tế, trong trẻo, thể hiện trạng thái tâm hồn lâng lâng trong cõi không hư, mông lung và huyền ảo:

          Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên,
          Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên,
          Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán
          Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

          (Bát ngát sông xanh, bát ngát trời,
          Một thôn mây khói, một dâu gai.
          Ông chài ngủ tít không người gọi,
          Tỉnh dậy thuyền trưa ngập tuyết rơi).

                                                            (Ngọc Liên dịch)

          Trong dân gian và một số tài liệu chữ Hán như Hoàng triều thông chí thần phật môn Thiên tiên Phật thánh lục (không rõ tác giả), Sự tích đức Thánh tổ (Đặng Xuân Bảng biên soạn)... cho biết ngoài hai bài trên, Không Lộ còn một số bài khác (không có tiêu đề) sáng tác mỗi khi cao hứng. Các sáng tác của Dương Không Lộ thể hiện tình yêu cuộc sống, yêu đất nước, gắn bó với thiên nhiên, tạo vật và con người, bằng bút pháp tài hoa, phóng khoáng hiếm thấy ở một thiền sư. Vì thế, thơ ông trải qua hàng nghìn năm vẫn được lưu truyền, vẫn gây được xúc cảm và tình cảm thẩm mỹ cho người đọc.

Dương Loan tổng hợp

Bài viết liên quan