Thanh Bình- Ngôi làng người Họ Dương

Nếu đi xe từ Nam ra Bắc theo quốc lộ 1A, đoạn qua dòng Sông Gianh chừng 7 km, nhìn về hướng đông, bạn sẽ thấy một ngôi làng như bức tranh phong thủy. Phóng tầm mắt ra xa, một con kênh xanh uốn lượn nằm sau lũy tre làng, một cánh đồng xanh ngát tô điểm bởi vài cánh con cò trắng và những cánh diều chao gió trên bầu trời. Thấp thoáng sau cổng chào cố kính là một ngôi làng ẩn hiện mờ ảo dưới một rặng cây xanh. Xa hơn nữa, một rừng dương xanh mướt uốn lượn theo gió, thấp thoáng những ngôi nhà hiện đại chạy dài theo triền cát hẹp, mượt mà như mái tóc thiếu nữ tuổi xuân thì. Đó là ngôi làng Thành Bình.

Đúng là “Thanh Bình” thật!

Không có biển chỉ đường, bạn phải bước xuống xe để hỏi đường vào làng. Bước chậm trên con đường làng trải bê tông bạn như nghe được trong gió âm thanh lúc véo von, lúc vi vu, khi trầm, khi  bỗng. Đó là âm thanh của cành cây dương rít lên trong gió. Hơi thở sâu lắng hơn, lắng hơn chút nữa sẽ nghe trong tiếng vi vu dương gió, một loại âm thanh khác lạ. Âm thanh trầm trầm có lúc nhè nhẹ, lúc dồn dập, khi ầm âm dữ dội. Đó là tiếng sóng biển vỗ bờ. Vào mùa lễ Tết, khi gió đông bắc tràn về, âm thanh ít lên trong gió mùa lạnh cắt da thịt. Ai yêu âm nhạc có thể nghe như “bản nhạc giao hưởng của thiên nhiên”.

Hai bên đường vào làng, ruộng lúa xanh mượt. Thoảng trong gió mùi hương cỏ mật, hương lúa nếp trổ đòng… Bạn thấy ngất ngây hoài cảm, bao ký ức tràn về. Bạn muốn gieo vài vần thơ?!… Liếc qua bờ ruông, vài ba con cua đồng đè lên nhau kẹp càng dành mồi ăn. Cũng có thể bạn sẽ giật  mình vì tiếng “lạch chạch” của con cá vẫy đuôi, lách qua khe nước hẹp, hay tiếng “vù…” của con chim trong tổ dưới ruộng lúa, bay ra khi có người lạ đến gần. Bên bờ kênh, con trâu nằm lim dim  nhai lại cỏ, xa xa, mấy đứa trẻ ngồi vắt vẻo bên bờ  mương nước, đọc nhẩm bài trước giờ vào lớp. Vài ba thiếu phụ tản bộ. Mấy cụ ông ngồi đánh cờ tướng trên bàn ghế đá đặt cạnh bờ ruộng. Mấy chiếc xe máy dựng vắt vẻo bên lề đường còn nguyên chùm chìa khóa… Bạn cúi chào các cụ lão hỏi đường, sẽ được vài tiếng đáp “ì, ày” đôi khi bạn không hiểu họ nói gì? … cháu con cháu nhà ai?… ở “chòm” mấy?… Ban ngơ ngác thì ông cụ bên cạnh nói vọng lại “vậy ông ngừng chơi cờ mà dẫn cháu về nhà… giờ nhà xây nhiều, nó đi lâu không biết đường vào nhà đâu..”

Bạn đi xuyên qua làng, qua một truông cát trắng mọc đầy cây bụi trâm bầu. Đừng sợ khi nghe như tiếng ai “cười khanh khách..” , loạc xoạc đào đất trong bụi cây, đó là loài chim Bìm Bịp muốn đuổi người lạ khi đến gần tổ. Vài cành mai núi vàng mỏng mảnh, vài cánh hoa cam núi trắng tô điểm cho nền tím ngắt của loài hoa mái (hoa mua). Ẩn dưới lùm cây bụi là đa dạng những cây thuốc nam quý mà chỉ ở đây mới có. Nhiều đời các lương y trong làng lấy làm thuốc để chữa bệnh. Nơi động cát trắng này, ẩn dưới gốc cây trâm bầu rậm rạp là di tích còn sót lại của  điện, đền, miếu thờ… Một thời, chính quyền “chống mê tin dị đoan” yêu cầu đập bỏ.

Tiếp giáp truông cát trắng là bãi cát vàng, tạo thành một đường biên thẳng tắp. Rừng dương khắc khổ như một “vườn bonsai thiên tạo”. Bạn tha hồ ngắm, tha hồ dặt tên, tha hồ tưởng tượng, tha hồ diễn giải “ triết lý nhân sinh, thế thái cuộc đời”… Mỗi gốc cây như một quãng đời cơ cực và cũng dự báo cho ai đó muốn thành công phải trả qua rèn luyện gian lao…. Đang trải hồn trong “thắng cảnh Bonsai”, bạn đừng hú tim khi một tiếng vỗ cánh dồn dập bay “vụt…”  qua mặt như một mũi tên. Đó là tiếng đập cánh của loài chim cu đất. Nó bay để đuổi bạn ra xa tổ của nó. Hay lâu lâu thấy một con chim cút què chân, nằm dãy dụa trên cát thì đừng phí công đuổi theo. Bạn không bắt được nó đâu. Nó giả vờ què chân để bạn đuổi theo, đuổi gần tới thì nó… “vù”… bay mất… Vì phía bạn đứng là tổ hoặc bầy con của nó đang nấp… Thiên nhiên cũng phản ứng như con người vậy !…

Qua rừng dương cát vàng là bãi biển. Nơi phát ra âm thanh “bản nhạc giao hưởng thiên nhiên” mà bạn vô tình nghe được khi bước trên đường vào làng. Tiếng sóng vẫn đều dều vỗ bờ, lúc êm êm nhẹ nhàng, khi ầm ầm dữ dội.  Bạn nằm dưới tán dương xanh, lá dương khô rụng rơi kết thành trảng lá màu hồng, êm như nệm nhung. Vài con còng ra tận đầu hang, trương mắt nhìn bạn như “sinh vật lạ” xâm nhập. Rồi mặc kệ bạn ở đó, nó lại lửng thửng bò vào trong hang ngủ tiếp. Vài cây hoa dại cố bò dài ra đất, chắc cố hút chút sương sớm để tổ điểm cánh hoa vàng thêm  sặc sỡ. Bạn nhắm mắt lại, nghe tiếng cành dương vi vu, vít vào trong gió mà tưởng tượng đường côn, roi… trước dây các võ sư trong làng múa quyền. Nơi đây là sân tập võ của nhiều đời võ sư trong làng dạy cho con cháu. Thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đây cũng là nơi luyện quân của đội Dân Quân làng. Các công sự, hầm hào, bia bắn, các hố nhảy, vượt rào…vẫn còn mãi đến những năm 1983.

Bạn ngồi xếp bằng trên cát, mắt nhìn về phía biển, nhấp nhô sóng nước và bồng bềnh huyền ảo. Nơi trời nước gặp nhau, bạn tha hồ mà ngắm vũ trụ… và khám phá mối tương quan giữa thiên nhiên, vũ tụ với con người. Mỗi khám phá như một bí mật của riêng bạn…

“Đâu ai biết những vì sao tinh tú

Cũng chưa trong lòng biển cả mênh mông

Đâu ai biết ánh sáng tỏa hừng đông

Là năng lương cho ngàn cây sinh trưởng

Vòng tuần hoàn mây bay cao muôn trượng

Đổ nước xuống dòng sông về biển cả…”
(Dương Nhật Sơn).

Bãi cát ven làng Thanh Bình

CẤU TRÚC NGÔI LÀNG

Ngôi làng Thanh Bình nằm dải trên dải đất hẹp. Chiều ngang chừng 500 mét nhưng dài vài cây số. Uốn lượn như mái tóc dài một cô gái tuổi thanh xuân. Đây là ngôi làng duy nhất trong vùng có hai mặt đông tây giáp với biển và cánh đồng.

Phía đông làng giáp với bờ cát và biển. Làng nằm nép sát vào cồn cát và ẩn bên dưới rặng cây. Nhờ vậy gió bão từ biển thổi mạnh trên tầng cao, không thổi trực tiếp vào những ngôi nhà trong làng. Ngày xưa, các ngôi nhà làm bằng gỗ, hoặc xây bằng đá san hô trộn với vôi nhưng vẫn vững vàng trước bão, tồn tại đến trăm năm. Biển là nguồn tài nguyên lớn nhất của làng. Sản vật cá tôm phong phú và dồi dào. Chỉ cần đan một cái thúng tre to  hay kết vài thân tre to thành một cái bè, uốn vài lưỡi câu là bạn có thể câu cá đủ sống qua ngày. Ai siêng hơn có thể sắm một chiếc “nooc” (ghe) đánh bắt xa hơn. Tôm cá dư có thể phơi khô, làm mắm ăn quanh năm. Có những năm, loài ốc biển dạt về kết thành mảng dày chừng đến đầu gối (50cm) trải rộng diện tích hàng hecta. Người dân lấy cái vợt ra xúc một mảng, bỏ lên “thúng ke” to khiêng kề về làng phơi khô. Vài nhà lấy vỏ con ốc to và dài bằng sừng bò làm “tù và” cho trẻ con thổi hay treo vài viên ngọc trai trên tường trang trí. Loài “VIC” (rùa biển lớn mai rộng hơn mặt bàn, nặng 200-300 kg) đêm trăng hay bò lên bãi biển đẻ trứng, nay không thấy xuất hiện. Loài cá thiều có trứng to bằng quả trứng chim cút. Một con cá thiều nặng 50-70 kg cũng thu được một rổ trứng chừng 3-5 kg. Nhưng nếu về làng bây giờ chắc bạn không được ăn nữa. Vì thường các lái buôn săn mua ngay về bán cho các nhà hàng…  Rừng dương vừa để chắn gió bão, chắn cát xâm thực, vừa là nguồn nhiên liệu đốt sưởi mùa đông lạnh. Khu rừng quý giá này được dân làng bảo về nghiêm ngặt như “bùa hộ mệnh”. Rặng trâm bầu trải dài trên cát trắng sát làng. Vừa giữ cát, vừa làm mát khu làng. Chen lẫn truông trâm bầu có những cây dược liệu quý mà các lương y trong làng lấy làm thuốc chữa bệnh. Ngọn đồi cát cao nhất được cụ Dương Hữu Phù, cháu đời thứ 7 xây ngôi đền thờ cụ tổ Dương Phúc Thái còn có tên tục khác là “Động Tây Xây”. Sở dĩ có tên “Động Tây Xây” là vì vào thời Pháp chiếm đóng làng, chúng đập ngôi đền rồi xây trên đồi cát này một lô cốt, đặt một đội pháo để kiểm soát tuyến đường bộ (Quốc lộ 1 A) và đường thủy (con kênh đào) từ sông Roon đến sông Danh. Sau khi chiếm lại quả đồi, năm 1954, chính quyền xã Quảng Xuân giao cho đội Dân Quân xã (toàn nữ dân quân) đặt khẩu đội đại liên. Khẩu đội có nhiệm vũ canh giữ làng, chống biệt kích Mỹ xâm nhập vào làng bằng đường kênh và bắn chặn máy bay xâm nhập từ đường biển. (Bà Quang Hạnh Trì- con dâu chi họ Dương Hữu chỉ huy khẩu đội này một thời gian khi bà làm xã đội trưởng xã Quảng Xuân). Ngày nay, quả đồi cao này chính quyền địa phương cho phép dân làng phục dựng lại ngôi đền thờ thành hoàng làng Dương Phúc Thái năm 2020.

Đền thờ Thành hoàng làng Thanh Bình – Trung đẳng thần Dương Phúc Thái

Phía tây làng giáp với cánh đồng. Ranh giới với cánh đồng của làng bên là con kênh đào uốn lượn. Kênh dài chừng 20 km nối sông Roon ở phía bắc xuống sông Danh ở phía nam. Kênh được đào vào cuối thời Lê mạt. Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, con kênh trở thành tuyến giao thông huyết mạch dùng chở binh lính và vũ khí quân Trịnh. Quân Trịnh vượt đèo ngang, men theo con kênh này xuôi xuống phía nam rồi vượt sông Gianh mà đánh vào đất Nguyễn. Cánh đồng dài và hẹp. Mỗi năm có 4 mùa thì một mùa ngập lụt, một mùa khô hạn. Dân làng chỉ canh tác lúa khoai được 2 mùa. Nhưng sản vật thơm ngon: gạo Thanh Bình ăn dẻo thơm như gạo tám xoan phía bắc, khoai Thanh Bình ăn bùi và ngọt. Các loại hải sản nước ngọt cá, ếch, lươn… tuy phong phú về chủng loại nhưng sản lượng không nhiều. Vượt qua con kênh, qua bên đường quốc lộ 1A là khu nghĩa trang liệt sỹ trường sơn. Liệt sỹ chủ yếu là con cháu trong làng.

Đường vào làng Thanh Bình và con kênh đào

Nghĩa trang liệt sỹ xã Quảng Xuân huyện Quảng Trạch tỉnh Quáng Bình ( cũ )

Ngôi đình làng và “Cánh đồng Đình”

Phía bắc làng giáp với làng đạo Xuân Hòa qua một cái chợ nhỏ gọi là “chợ Hôm”. Bạn thắc mắc rằng “chợ Hôm” sao lại họp chợ vào buổi sớm mai? Đó là cách nói ngược trong văn hóa làng trong một giai đoạn phát triển. Chợ họp từ sáng sớm đến 8-9 giờ sáng thì tan. Trước đây, hàng hóa trao đổi tại chợ chủ yếu hải sản cá tôm được đánh bắt bởi các dân làng ven biển, mang đổi nông sản (gạo, khoai sắn…). Nguồn lâm sản (thịt hươu, sừng nai, da bò rừng, cây thuốc, sâm bố chánh…) được những người vùng Tuyên Hóa, Minh Hóa cách chừng 50-60 km mang xuống trao đổi. Những người vùng thượng nguồn thường phải đi bộ 1 ngày đường, đến xin tá túc những nhà dân trong làng trước một đêm. Sáng sớm hôm sau họ mang lâm sản ra chợ, đổi lấy nông sản, ngư sản, muối, các vật thiết yếu… Họ trao đổi sản vật cho nhau là chủ yếu, ít khi dùng tiền. Rồi khi mặt trời ló dạng, họ lại một hành trình đi bộ đến chiều tối về nhà. Vậy là một lần ra chợ, họ phải mất hành trình đi bộ mất 2 ngày với đầy gánh nặng trên vai đi và về… Ngày nay thì giao thông thuận tiện hơn, việc mua bán trao đổi cũng không cần đi xa và vất vả quá. Nhưng ngôi “chợ Hôm” lại bị lấn bởi những ngôi nhà hiện đại xây xung quanh. Diện tích chỉ còn vài trăm mét vuông. Và lối trao đổi sản vật cũng không còn là chủ đạo như thời trước. Thay vào đó là những sạp hàng, hàng hóa đóng gói và thanh toán bằng tiền mặt,  bằng chuyển khoản….

Phía nam làng chạy dài vào giáp cánh đồng của làng Thanh Lương và và các làng khác dài mãi đến bờ bắc sông Gianh.

Chính giữa làng là một cái đình lớn. “Đình làng Kẻ Đại” được phong lập vào triều Nguyễn. Trước đây, ngôi đình cổ kính được xây trên một khu đất rộng chừng 2ha. So với diện tích khuôn viên các đình khu vực bắc và trung bộ chừng 2-3 ngàn mét vuông thì đây là ngôi đình lớn. Đình là nơi điều hành chính quyền, ban các sắc lệnh, xử án, tổ chức các nghi lễ và văn hóa truyền thống của làng suốt thời gian mấy trăm năm triều Nguyễn và thời Pháp thuộc… Sau năm 1954, vào thời cách mạng “phản đế”, “phản phong” và “chống mê tín dị đoan”, chính quyền xã cho đập bỏ đình và san phẳng thành cánh đồng trồng lúa, gọi là “Cánh Đồng Đình”. Mới đây, TS Dương Minh Hải cùng con cháu trong làng xin với chính quyền địa phương cho xây lại ngôi đình mới khang trang, trên nền ngôi đình cũ. Trong làng có 3 cái “giếng làng” cổ. Mạch nước ở đây rất nông, đào sâu chừng 2-3 m là đến nước. Nhưng nước thường nhiễm phèn và mặn. Những người già có kinh nghiệm trong làng tìm được 3 mạch nước ngọt thì xây thành 3 cái giếng lớn cho cả làng dùng chung. Vậy nên gọi là “ Giếng Làng” Ngày nay thì ít người dùng giếng làng vì đã có nước máy. Dân làng chừng hộ 590 hộ, chia làm 5 “chòm” (xóm) nhỏ từ 1 đến 5. Họ tự ước định rồi gọi vậy chứ không có văn bản hay số nhà. Nên ai mới tới làng thì phải nói tên và nhờ người dân dẫn đến nhà.

Giếng Làng Thanh Bình

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH NGÔI LÀNG.

Không có ghi chép chính thức nào về thời gian hay sắc lệnh thành lập làng Thanh Bình. Các ghi chép trong gia phả đã trải qua nhiều đời. Hệ chữ nho được dùng ngôn ngữ ghi chép phả hệ: phần vì bị đốt trong cải cách văn hóa “chống mê tin dị đoan”, phần vì thời chiến tranh, các thế hệ trẻ không được học chữ nho. Nhưng các thế hệ đều thống nhất nhân vật khởi tổ làng là cụ Dương Phúc Thái.

Cụ Dương Phúc Thái sinh ra tại Trấn Hải Dương vào triều Lê mạt. Tên gọi thay cho thừa tuyên Nam Sách, một trong “tứ trấn” phên giậu phía đông của kinh thành Thăng Long. Một giai thoại còn truyền đến ngày nay là vào thời trai trẻ, Dương Phúc Thái là một thanh niên có văn võ song toàn, có nhiều kiến thức và hoài bão lập thân, lập nghiệp. Cụ Dương PhúcThái lần đầu tiên đến vùng bắc Bố Chánh (Quảng Trị ngày này) để giúp một người bạn học theo một vụ kiện dành đất. Cụ Thái có một người bạn thân, ra kinh thành Thăng Long theo đèn sách thi cử. Đất đai tổ tiên để lại ở vùng Bố Chánh không ai trông nom, cỏ mọc. Một Phú Hộ trong vùng lấy cớ đất hoang mà chiếm lấy. Hai người nghe tin cùng nhau từ bắc vào nam theo vụ kiện. Quan xử án phán: “nếu là đất tổ tiên để lại tất phải có vết tích canh tác nhà cửa, cây cối…,  không có đích thị đất hoang”… Cụ Thái bày cho bạn làm một ngôi nhà tranh tre dựng tạm trên lô đất, rồi làm một dàn bầu cho leo bám. Một tuần sau, cây bầu leo dây lên dàn mà nhà tranh cũng úa lá. Quan quân đến khám xét khu đất thấy có nhà, có cây trồng nên xử hai cụ thắng kiện. Từ đó hai người kết làm bạn thân mà giúp nhau trên chốn thi cử, quan trường. Cụ Dương Phúc Thái cũng từ đó mà mến thích vùng đất Bố Chánh. Nhờ có công với đất nước, cụ xin được phong dẻo đất ven biển vùng bắc Bố Chính, nằm giữa sông Roon và sông Gianh. Di dân lập ấp và cùng con cháu xây dựng làng Nghĩa Nương (tình nghĩa của người vợ). Cụ truyền dạy cho con cháu nghề ngư nghiệp (đánh cá), nông nghiệp (trồng lúa), thủ công nghiệp (rèn nông cụ, binh khí và đóng ghe tàu), thương nghiệp (thành lập “chợ Hôm” phía bắc làng để buôn bán, trao đổi sản vật với các dân làng quanh vùng), y học và võ thuật (nghề thuốc cổ truyền)…. Các con cháu phát triển theo nguyên lý “5 đời tách nhánh, 7 đời tách chi”. Trong các chi họ, chi họ Dương Hữu được nắm giữ nghề y học và võ thuật  tổ truyền. Họ dựa theo nguyên lý âm dương, ngũ hành mà lấy các cây, con, khoáng vật quanh làng làm thuốc chữa bệnh. Các thế hệ lương y phát triển qua nhiều thế hệ. Hoạt động khám bệnh chữa bệnh khắp vùng Bố Chánh ( tên Bố Chánh thời này được đặt tên cho loại sâm quý vùng này), lên vùng núi Tuyên Hóa, Minh Hóa sát biên giới Việt Lào. Họ vượt qua đèo ngang, đến khám bệnh cả vùng Thanh Nghệ (Hà Tĩnh- Nghệ An -Thanh Hóa). Thời đường sá xa xôi cách trở, bệnh nhân không đến nhà thầy thuốc để trị bệnh. Thầy thuốc phải đi tới tận nơi người bệnh sinh sống, khám bệnh, kê thuốc và điều trị cho đến khỏi. Khi về được trả công bằng tiền, vàng… thậm chí lâm sản (trầm hương, kỳ nam, vàng, ngọc, sừng tê giác, ngà voi…). (Năm 980, cụ lương y Dương Hữu Sử vẫn giữ 2 đồng tiền vàng khắc hình vua Hàm Nghi, có lẽ ngân khố chuẩn bị cho phong trào Cần Vương) Trên đường đi có thể gặp trộm cướp. Nên các lương y chi họ Dương Hữu thường rất giỏi võ để tự vệ. Dần hình thành hệ phải Dương Gia Y Võ đặc trưng riêng. Con cháu chi họ Dương Hữu không khoe trương nhưng giàu nhất trong chi các họ. Gần đây nhất, các lương y Dương Hữu: Lương y Dương Hữu Khoái, lương y Dương Hữu Sử, lương y Dương Hữu Sẳn, lương y Dương Hữu Ký, võ sư Nhuận Thuyết Dương Hữu Lý, bác sỹ liệt sỹ Dương Hữu Trí (trưởng môn Dương Gia Y Võ), ThsBs Dương Văn Ninh… là hậu huệ còn hành nghề y võ.  Ngoài chi họ Dương Hữu phát triển y thuật và võ học, các con cháu chi họ khác trong làng phát triển các nghề. Không biết có phải người họ Dương làng Nghĩa Nương có thể hình to lớn, khỏe mạnh hay họ giàu có hơn mà được các làng xung quanh gọi tên làng với tên tôn kính: “Làng Kẻ Đại” (làng của những người lớn). Sau khi mất, cụ Dương Phúc Thái được triều Lê – Trịnh sắc phong bậc “Trung Đẳng Thần” (một bậc cao trong hệ thống thần làng Việt Nam “sinh vi tướng, tử vi thần”, chỉ sau Thượng Đẳng Thần). Cụ Dương Hữu Phù, cháu đời thứ 7 nhận sắc phong và cùng con cháu xây đền thờ thành hoàng làng cụ Dương Phúc Thái trên đồi cát cao nhất. Tưởng nhớ vị tổ tiên khởi tổ, ước mong linh hồn cụ che chở gió bão cho con cháu dân làng. Đến thời Pháp thuộc, ngôi đền bị giặc pháp đập phá, xây lô cốt pháo nên dân làng gọi là “Động Tây Xây” mà chúng tôi giới thiệu phần trước. Mới đây, tiến sỹ Dương Minh Hải cùng dân làng xin chính quyền địa phương phục dựng lại ngôi đền “Thành Hoàng Làng cụ Dương Phúc Thái

CUỘC SỐNG DÂN LÀNG THANH BÌNH

Thống kê đến năm 2026, làng có 2392 nhân khẩu thì có đến 90% người mang Họ Dương. Dân số trong làng có nhiều dòng họ khác: họ Phạm, họ Nguyễn, họ Đậu, … nhưng họ cũng là bà con nội ngoại với nhau. Một đứa trẻ giữa làng khóc: bà họ Phạm đầu làng chạy xuống hỏi “sao cháu của bà khóc? Ông họ Dương cuối làng chạy lên hỏi “đứa nào đánh cháu của ông khóc…?” Nên có thể nói: các họ trong làng đều có mối quan hệ thân thuộc. Thời chiến tranh chắc dân số ở đây ít hơn. Ấy vậy mà nhìn lên nghĩa trang liệt sỹ, hơn 200 liệt sỹ hy sinh, chủ yếu con em trong làng (chừng10% dân số, chưa kể số liệt sỹ chưa tìm thấy hài cốt..). Con người nơi đây sống bình yên thong thả, yêu dòng tộc, yêu quê hương và đầy lương thiện. Những người tham gia trong các cấp quản lý nhà nước: Trung tướng Phạm Hồng Thanh- nguyên Tổng cục phó Tổng cục Chính trị QĐND VN, Trung tướng Phạm Văn Hùng- nguyên Tư lệnh Hải quân Vùng 4, Thiếu tướng, tiến sỹ Dương Minh Hải- đương kim Cục trưởng Cục Khoa Hoc Quân Sự, Bộ Quốc Phòng… là những người con ưu tú của làng Thanh Bình.

Nếu theo lời phát biểu của bác Nguyễn Bá Thanh- Cựu Bí thư tp. Đà Nằng: “Thái bình là làng trên xóm dưới yên vui, ngủ không sợ ăn trộm vô nhà, không có tội phạm, con người sống với nhau nhân ái, thủy chung, tình nghĩa…” thì làng Thanh Bình cũng gần đủ tiêu chuẩn. Nhưng kinh tế dân làng thì còn nghèo, tài nguyên quý nhưng không dồi dào…Con cháu trong làng lớn lên chủ yếu đi ra khỏi làng, có người ra tận nước ngoài để làm kinh tế, mưu sinh… Những ngôi nhà khang trang hiện đại là con cháu từ xa mang tiền về xây dựng. Họ xây dựng vì họ yêu quê, yêu nơi chôn nhau cắt rốn. Cũng có thể họ giữ lại tài nguyên ít ỏi để phòng khi sa cơ lỡ vận mà quay về nương nhờ làng che chở. Biển xanh và ruộng đồng tuy vất vả nhưng cũng sẽ giúp họ vượt qua khó khăn cơn bỉ cực của thời cuộc.

Bác sĩ Dương Văn Ninh- giảng viên Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch Tp.HCM khi về thăm quê cũng thốt lên:

“Quê hương tôi bình yên và thong thả

Mang trong mình bí mật của thời gian

Quê hương tôi trong nỗi nhớ miên man

Trong khói lam chiều, cánh cò bay lả

Ơi những chàng trai vẫy vùng nơi xứ lạ

Có nhớ về một thuở chăn trâu…”

Có lẽ để nhắc chính ông, nhắc những người con xa xứ của làng Thanh Bình đừng quên quê hương và trăn trở cách nào xây dựng, phát triển và gìn giữ truyền thống quê hương!….

 Ông Dương Văn Hóa- Trưởng thôn Thanh Bình trao bằng mừng thọ cụ tròn 90 tuổi.

Những người con Họ Dương của Làng Thanh Bình đã sớm tham gia hoạt động Dòng tộc từ những ngày đầu thành lập Hội đồng Họ Dương tỉnh Quảng Bình ( cũ). Các hoạt động khuyến học, khuyến tài, tương thân tương ái và mừng thọ các cụ cao niên trong Dòng tộc được Họ Dương Thanh Bình thực hiện nghiêm túc theo hướng dẫn của Họ Dương tỉnh Quảng Bình ( cũ) và theo Điều lệ Họ Dương Việt Nam. Đặc biệt trong đợt ảnh hưởng bởi bão lũ của các tỉnh miền Bắc năm 2025, Họ Dương Thanh Bình đã phát huy vai trò tương thân tương ái, sẵn sàng chia sẻ với bà con Họ Dương bị ảnh hưởng bởi bão lũ với số tiền ủng hộ hơn 30.000.000 triệu đồng để chuyển về Họ Dương Việt Nam kịp thời chia sẻ tình cảm với bà con Dòng tộc trong đợt bão lũ lịch sử.

Con, cháu Họ Dương tại Lễ khánh thành Đền thờ Cụ Dương Phúc Thái 

Mặc dù là một địa phương thuần nông, kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng tình thần vì Dòng tộc của bà con  Họ Dương làng Thanh Bình luôn được vun đắp và tiếp nối qua nhiều thế thế hệ.

Từ  ngôi đền “Thành Hoàng Làng cụ Dương Phúc Thái” nhiều giá trị cội nguồn, gốc rễ của Dòng tộc, quê hương  được lan tỏa. Ngôi đền theo thời gian đã có phần xuống cấp và chưa tương xứng với công lao của bậc tiền nhân Cụ Dương Phúc Thái, mong muốn lớn nhất của bà con làng Thanh Bình là có được sự chung tay góp sức của các nhà hảo tâm, những người con quê hương cùng góp sức để tôn tạo lại ngôi đền cho tương xứng với công lao của Cụ Dương Phúc Thái và cũng là tô điểm cho ngôi làng Thanh Bình ngày càng đẹp lên trong dòng chảy chung của quê hương đất nước.

Bài:Dương Mão, Dương Trang

Ảnh: Dương Nhật Sơn

(Dữ liệu được cung cấp bởi: ông Dương Văn Hóa Trưởng thôn Thanh Bình ; ông Dương Thái Học- Trưởng tử chi họ Dương Hữu thôn Thanh Bình)

 

Ban Thông tin truyền thông
Ban Thông tin truyền thônghttps://hoduongvietnam.com.vn/

Bản tin điện tử Họ Dương Việt Nam. Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Dương Văn Mão - Phó Ban Thông tin truyền thông Hội đồng Họ Dương Việt Nam.

BẢN TIN ĐIỆN TỬ HỌ DƯƠNG VIỆT NAM
© 2005-2018 Họ Dương Việt Nam. All rights reserved

Biên tập: Văn phòng Họ Dương Việt Nam - Địa chỉ: Tòa nhà Câu lạc bộ Golf Long Biên,
Khu Trung Đoàn 918, Phường Phúc Đồng, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội
Điện thoại: 0243.526.5678 - Fax: 0243.699.3366 - Email: thongtinsukienhdvn@gmail.com