Bài viết đạt Giải Nhất cuộc thi Tìm hiểu Lịch sử – Văn hóa Họ Dương VN: Hai anh em Tú tài nhà Họ Dương

Cây có cội, nước có nguồn.

Chim có tổ người có tông.

Lời người xưa đã dạy: Cái đạo lý truyền thống muôn đời ấy không bao giờ thay đổi. Là người Việt Nam các thế hệ con cháu chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ: Đừng bao giờ quên cội nguồn phải tôn vinh và trân trọng quá khứ bởi lẽ “Những ai quên quá khứ có tội với tiền nhân và không phải là người”. Hơn thế nữa “chúng ta sinh sau cổ nhân nên làm con cháu cổ nhân chứ đừng làm tôi tớ cổ nhân”. Là truyền nhân hậu duệ của người xưa  chúng ta có trách nhiệm vun đắp tô bồi cho giang sơn cầm tú cho đất nước phồn vinh, cho quê hương thanh bình, thịnh trị. Quê hương chúng ta đã trải qua biết bao thăng trầm, biến thiên, nghiệt ngã của lịch sử, dân tộc ta chịu không ít những đau thương, mất mát, chiến tranh khói lửa khốc liệt, điêu tàn, những áp bức, bạo quyền của các thế lực đế quốc thù địch đã áp đặt sưu cao, thuế nặng làm cho dân tình khốn khổ, lầm than.

Thế nhưng với tinh thần quật cường, quả cảm, với ý chí kiên định, lập trường vững vàng cứng rắn của các tộc họ (trong đó có tộc Dương) và các anh hùng danh nhân chí sĩ đã đứng lên đập tan xiềng xích, bạo tàn làm cho quân thù phải tan hồn, khiếp vía. Tiêu biểu Tộc Họ Dương Quảng Nam có 2 anh em Dương Thưởng và Dương Thạc đã lập nên những kỳ tích lẫy lừng, vang dội sử sách lưu danh dân tình mến mộ, truyền đời.

Hai Tú tài người Hà Đông Dương Thưởng và Dương Thạc là anh em sinh đôi, sinh năm 1881 tại làng Trường An, tổng Đức Hòa, huyện Hà Đông (nay là thôn Bích An, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam). Các vị cao niên vùng Tam Kỳ thì nhớ lại cụ có thời gian cư ngụ ở thôn Quán Rường, tổng Chiên Đàn (nay là xã Tam An, huyện Phú Ninh). Hai ông là bạn học của Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng ở trường huyện và nổi tiếng là những người siêng học, khảng khái được bạn đồng học tặng danh hiệu “Nguyên phương, Quí phương”. Cả hai đỗ tú tài khoa Bính Ngọ (1906), Dương Thạc đỗ chính thức, còn Dương Thưởng bị đánh hỏng. Nhiều người học giỏi nổi tiếng như Phan Khôi (người làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam), Dương Thưởng (Trường An, Hà Đông)… vì không đút lót nên chỉ đỗ tú tài. Trương Bá Huy bị đánh hỏng. Tức giận, các ông đã cùng Dương Thưởng, Dương Thạc viết đơn tố cáo gởi Viện Cơ mật và Tòa Khâm sứ.

Làng Bích An, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam (xưa làng Trường An, tổng Đức Hòa, huyện Hà Đông)

Về khoa thi này, Cao Xuân Dục trong sách Quốc triều Hương khoa lục cho biết: “Trường Thừa Thiên lấy đậu 35 người. Nguyên trúng 42 người. Sau khi ra bảng, sĩ tử đưa đơn đến Tòa Khâm sứ và Cơ mật viện khiếu nại về 11 cử nhân học kém mà lại trúng. Vì vậy Tòa bàn bạc lập Hội đồng, cử quan người Pháp, người Nam tiến hành duyệt lại.”

Kết quả 3 người “có văn lý hơi trội vẫn cho đậu”, còn 8 người “có văn lý bình thường đều giáng xuống hạng tú tài”. Tám người này sau đó cho dự phúc hạch. Kết quả có 7 người rớt, còn 1 người được xét cho đậu mạt hạng cử nhân” (NXB lao động, 2011, trang 599).

Đó chỉ là kết quả của khoa thi theo thông tin “chính thống”, còn dân gian thì xem đây là khoa thi sặc mùi tiêu cực :

  …Con nên khoa giáp cho mòn trán

  Em được công danh chị nát trôn …

(thơ Dương Thưởng)

Con đường mang tên Dương Thưởng ( Tại TP Đà Nẵng)

Dương Thưởng sau nhờ làm đơn kiện quan trường mới được phúc khảo cho đỗ, Khoa này, hai viên chánh, phó chủ khảo là Tạ Tương và Từ Thiệp chủ trương hối lộ. Ai nộp tiền thì cho đỗ còn ai dù học giỏi nhưng nhà nghèo thì hỏng. Dương Thưởng đã cầm đầu nhóm sĩ tử trường thi đâm đơn kiện. Triều đình cho phúc khảo, kết quả Dương Thưởng, Ngô Đam được chấm đỗ tú tài còn một số cử nhân bị truất xuống tú tài. Vụ kiện hy hữu này đã làm sĩ dân nức lòng nhưng một số quan lại rất lo ngại.

Hai ông tham gia phong trào Duy tân lúc này đang phát triển mạnh trong vùng. Năm 1907, cả hai cầm đầu nhân dân làm đơn kiện chánh, phó tổng cả 7 tổng của Tam Kỳ cùng bọn nha lại sách nhiễu dân, ăn hối lộ, lạm thu các khoản: Bọn chánh, phó tổng cùng nha lại nhiều phương che đậy và vận động đủ cách cho êm việc. Nhưng anh em (Dương Thưởng, Dương Thạc) tới tỉnh tới bộ, bày tỏ tình trạng lời lẽ sách hoạch, chứng cứ minh bạch. Việc đương tại án chưa cứu xong thì tấn kịch xin xâu nổi lên. Nhà đương cuộc nghi cho hai anh em Dương quân xúi dân cư thuế, cả hai đều bị bắt giam trong ngục (Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, trang 76,77).

Toàn cảnh khu di tích Phủ Đường Tam Kỳ nơi diễn ra phong trào kháng thuế.

Khi phong trào kháng thuế nổ ra, hai ông tích cực tham gia, bị bắt và đem xử vào ngày 6/5/1908.

Hai ông bị kết án nặng: “Tú tài Dương Thạc, 27 tuổi, xã Trường An, phủ Tam Kỳ, cùng anh là bọn Dương Thưởng, đương khi hạt dân phiến động, tên ấy dụ tụ họp bậy bạ, người làng cũng sợ danh thế tú tài của y bèn xướng làm các việc dân quyền, kết hợp lập giới bảo hiểm, tuy không có thực trạng uống huyết đính thề nhưng kết hợp giao hảo, thật mở ra mối càn quấy… Vậy vi thủ là Dương Thạc xin chiếu luật mưu ban vi hành xử giảo giam hậu, Dương Thưởng giảm một bậc, xử tượng 100, đày 3.000 dặm, tư xét.

Rằm tháng 8 năm Mậu Thân (1908), Dương Thạc bị đày ra Côn Đảo, còn Dương Thưởng bị đày ra Lao Bảo. Lần đầu tiên hai anh em họ đi theo hai ngã rẽ và mãi mãi không còn gặp nhau…

Ra đảo được mấy tháng thì Dương Thạc bị thổ huyết phải vào nằm nhà thương, qua đời năm 1918 khi cai ngục tiến hành cuộc thảm sát ở đây.  Biết mình khó qua khỏi nên đã viết thư vĩnh quyết gửi lại cho các đồng chí, trong có câu “Xưa da ngựa mà nay xe bò cũng đủ kiến cho kẻ tượng phu khởi sắc” (Tù nhân Côn Đảo khi chết được bỏ lên xe bò đưa đi chôn). Câu này, theo Huỳnh Thúc Kháng đã trở thành giai thoại trong tù lúc đó.

Gần một năm sau ông qua đời. Trước khi mất, ông có để lại hai bài thơ, trong đó có bài Tức sự :

“Hòn đảo mồ côi giữa cõi cùng.

                     Đày ra, Nam Bắc kiếp tù chung

                     Nước nhà văn hiến còn in cũ

                     Âu hóa, phong triều chửa trót công

                     Tiếng sóng góc trời rầy giấc điệp

                     Luồng mây núi cũ mến chim hồng

                     Thôi đừng rưới lệ Tân đình nữa

                     E nhuộm Côn Lôn nước biển hồng”

Dương Thạc là người đầu tiên của phong trào kháng thuế ở Trung Kỳ hy sinh tại Côn Đảo. Vì vậy, đã có được một cái chết “vinh dự nhất”, “đầm ấm, hoành tráng trong lòng đồng chí”, “có cái quang cảnh như đưa Kinh Kha, khóc Điền Hoành ngày xưa”. (Huỳnh Thúc Kháng). Cả 40 tù chính trị phạm ở đây đều có câu đối viếng ông, tất cả được tập hợp lại thành một tập, Huỳnh Thúc Kháng đề tựa ở phía sau. “Tập này được truyền về trong nước, tuyền tụng khắp nơi, cho đến mấy anh em du học bên Nhật bản cũng nhiều người đọc thuộc…”

Mộ Dương Thạc ở khu nghĩa địa tù thường tại Côn Đảo, sợ lâu ngày mất dấu nên các đồng chí của ông thuê người dựng bia khắc tên “Việt Nam chí sĩ Dương Trường Đình chi mộ”. Khi còn ở đảo, Phan Châu Trinh thường ghé thăm, đem gà, rượu cúng và có bài tứ tuyệt mà Huỳnh Thúc Kháng cho là “tuyệt cú, đáng là bài thi đề sau tập liễn kỷ niệm”.

“Non xanh nước biếc nấm mồ côi

                      Mưa gió thương ai một góc trời

                      Chưa dám hết lòng tuôn nước mắt

                      Ngoảnh về nước cũ vẫn chơi vơi.” 

Dương Thưởng thì chết ở Lao Bảo, sau cuộc nổi dậy của tù nhân vào năm 1915. Nghe tin Dương Thưởng chết, Huỳnh Thúc Kháng đã xúc động làm câu đối khóc: “Chuyện xe bò mới đó, có hẹn nhau sao? Em chưa đủ lại chết dồn đến anh, gươm báu cấp đôi bay, giông gió ven trời thêm dậm đám ! Hồn Hồng Lạc đi đâu, bay về chăng tá ! Sống thế nào không phụ lòng kẻ chết, sân tuồng gióng một vọt, anh hùng lớp trước kể bao tay? ”.

Tháng 8 năm 1908, kết thúc thời gian bi hùng và bắt đầu giai đoạn đau thương của nhân dân Trung Kỷ, hai anh em nhà Họ Dương đã chia tay nhau để đi vào hai “trường học thiên nhiên” lẫy lừng thời đó. Rất tiếc cả hai đều nằm lại với Côn Đảo và Lao Bảo, mãi mãi không trở về, chỉ còn lời thơ Phan Châu Trinh: Mưa gió thương ai một góc trời… Non xanh, nước biếc (hai) nấm mồ… côi.

Chúng con là thế hệ đi sau rất đáng tự hào ngồi ghi lại một vài hình ảnh quê hương cùng hành trạng các vị tiền bối họ Dương, cảnh làng quê nghèo khổ mà thân thương ngày xưa vẫn như ẩn như hiện nơi cõi lòng.

Với nỗi niềm tự hào ấy một lần hồi tụ về nơi nhau rún thuở tiền nhân “mang gươm đi mở cõi”, cuộc đời và hành trạng của các vị danh nhân Họ Dương đã làm rạng danh quê hương, cũng như góp phần làm cho Tổ quốc được như hôm nay.

Quá khứ đáng trân trọng, tương lai đáng tự hào.

Hôm nay chúng ta được vinh dự ghi lại những trang sử hào hùng mà con cháu Tộc Dương đã đóng góp trong cuộc đấu tranh chống cường quyền, áp bức góp phần xây dựng, chấn hưng và bảo vệ Tổ quốc.

Thay mặt con cháu các thế hệ Tộc Dương quyết tâm học tập, trau dồi nhân cách, đạo đức: “ĐOÀN KẾT MỘT LÒNG”, nêu cao ngọn cờ “CHÍNH NGHĨA” nối vòng tay lớn cùng các tộc họ bạn, lấy gương của người xưa làm Kim chỉ nam soi đường dẫn lối cho con em chúng ta nối tiếp, siết chặt tay nhau tiến về trước như lời ông quan Nguyễn Khắc Niệm – thân sinh của Bác sĩ Viện trưởng Nguyễn Khắc Viện hiến kế trị nước:

Tôn tộc đại quy

Tôn lộc đại nguy

Tôn tài đại thịnh

Tôn nịnh đại suy.

Dương Ngọc Anh Tuấn

Chủ tịch Câu lạc bộ Thanh niên Họ Dương tỉnh Quảng Nam

Ban Thông tin truyền thông
Ban Thông tin truyền thônghttp://hoduongvietnam.com.vn/

Bản tin điện tử Họ Dương Việt Nam. Chịu trách nhiệm nội dung: Bà Dương Thu Hiền - Phó Ban Thông tin truyền thông Hội đồng Họ Dương Việt Nam.

BẢN TIN ĐIỆN TỬ HỌ DƯƠNG VIỆT NAM
© 2005-2018 Họ Dương Việt Nam. All rights reserved

Biên tập: Văn phòng Họ Dương Việt Nam - Địa chỉ: Tòa nhà Câu lạc bộ Golf Long Biên,
Khu Trung Đoàn 918, Phường Phúc Đồng, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội
Điện thoại: 0243.526.5678 - Fax: 0243.699.3366 - Email: thongtinsukienhdvn@gmail.com